Top posters
Admin
 
gianggiangonline
 

Most active topic starters
Admin
 
gianggiangonline
 

Top posting users this week

Top posting users this month

Latest topics
» hoc anh van ne pakon
Tue Aug 13, 2013 7:46 am by Admin

» anh van giao tiep
Sat Aug 03, 2013 3:11 am by Admin

» hoc tieng anh hay ne
Wed Jul 31, 2013 4:24 am by Admin

» dia chỉ hoc hay nhat
Thu Feb 09, 2012 12:32 am by Admin

» TOEIC - TARGET - UNIT 1 - PART 1: Picture Description
Wed Feb 08, 2012 7:12 pm by Admin

» Luyện thi TOEIC 550 cấp tốc - Hoc360
Wed Feb 08, 2012 7:02 pm by Admin

» Phát âm tiếng Anh cơ bản - Hoc360
Wed Feb 08, 2012 7:00 pm by Admin

» PHÁT ÂM CHUẨN
Wed Feb 08, 2012 6:58 pm by Admin

» TIENG ANH MIEN PHI
Tue Jan 31, 2012 10:10 am by Admin


Tìm hiểu thêm về lãi trên cổ phiếu

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Tìm hiểu thêm về lãi trên cổ phiếu

Bài gửi  Admin on Wed Nov 10, 2010 11:06 pm

Thuật ngữ "lãi trên cổ phiếu" (EPS) đã khá quen thuộc, nhưng trong bài viết này, chúng tôi xin đưa ra thêm một số điểm cần lưu ý với NĐT trong quá trình xem xét chỉ số này, dưới góc nhìn của người làm BCTC và các hướng dẫn theo quy định hiện hành của Việt Nam trong việc ghi nhận chỉ số EPS căn cứ trên Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 30: "Lãi trên cổ phiếu".
Các lưu ý trong cách tính lãi cơ bản trên cổ phiếu
Lãi cơ bản trên cổ phiếu, như chúng ta đã biết, được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ.
Trong trường hợp DN mua lại các cổ phiếu ưu đãi từ người sở hữu, phần chênh lệch giữa giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho cổ đông sở hữu và giá trị ghi sổ của lượng cổ phiếu ưu đãi này sẽ được xử lý như sau:
- Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi với giá trị hợp lý của các khoản thanh toán được cộng vào lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ. Theo đó, giá trị của lãi cơ bản trên cổ phiếu cũng sẽ tăng theo tùy vào giá trị của khoản chênh lệch này;
- Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho người sở hữu với giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi là lợi ích của người sở hữu cổ phiếu ưu đãi và là khoản giảm trừ vào lợi nhuận chưa phân phối của DN. Khoản chênh lệch này được trừ vào lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ. Và theo đó, giá trị của lãi cơ bản trên cổ phiếu cũng sẽ giảm đi tùy theo giá trị của khoản chênh lệch này.
Một số ví dụ khác về sự thay đổi của số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ và được điều chỉnh trong quá trình tính lãi cơ bản trên cổ phiếu:
- Cổ phiếu phổ thông phát hành thu tiền được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi ghi nhận được tiền;
- Cổ phiếu phổ thông được phát hành thay cho việc trả cổ tức của cổ phiếu phổ thông hay cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi cổ tức được chuyển thành cổ phiếu;
- Cổ phiếu phổ thông phát hành bằng việc chuyển đổi một công cụ nợ thành cổ phiếu phổ thông được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi ngừng tính lãi từ công cụ nợ đó;
- Cổ phiếu phổ thông được phát hành thay cho lãi và gốc của các công cụ tài chính khác được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi ngừng tính lãi từ công cụ tài chính đó;
- Cổ phiếu phổ thông được phát hành để thanh toán khoản nợ phải trả của DN được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi khoản nợ phải trả này được chuyển thành cổ phiếu;
- Cổ phiếu phổ thông được phát hành để thanh toán cho việc mua một tài sản phi tiền tệ được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi tài sản đó được ghi nhận;
- Cổ phiếu phổ thông được phát hành để thanh toán cho dịch vụ cung cấp cho DN được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi dịch vụ đó được cung cấp.
Thời điểm tính cổ phiếu phổ thông được xác định theo các điều khoản và điều kiện gắn kèm với việc phát hành cổ phiếu, DN phải cân nhắc kỹ lưỡng bản chất của các hợp đồng liên quan tới việc phát hành cổ phiếu.
Lãi suy giảm (suy giảm ngược) trên cổ phiếu
Theo hướng dẫn của Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 30: “Lãi trên cổ phiếu”, việc xác định lãi suy giảm trên cổ phiếu được căn cứ trên số lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ.
DN phải điều chỉnh lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành do ảnh hưởng của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng để tính lãi suy giảm (suy giảm ngược) trên cổ phiếu (các cổ phiếu tiềm năng đã được định nghĩa trong bài viết trước và bao gồm các loại sau: quyền chọn mua, chứng quyền và các công cụ tương đương, công cụ tài chính có thể chuyển đổi, cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện, hợp đồng có thể được thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng tiền, các quyền chọn bán đã phát hành).

Lợi nhuận (hoặc lỗ) để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
Để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu, DN cần điều chỉnh số lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ, sau khi loại trừ các tác động sau thuế của:
- Các khoản cổ tức hoặc các khoản khác liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm đã được giảm trừ vào số lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ;
- Bất kỳ khoản lãi nào được ghi nhận trong kỳ liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm;
- Các thay đổi khác của thu nhập hoặc chi phí do chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm.
Ví dụ, khi DN thực hiện chuyển đổi một khoản nợ vay của Ngân hàng A sang thành cổ phiếu phổ thông theo điều kiện vay đã thỏa thuận trước đó. Lúc này, việc thay đổi của lợi nhuận tính lãi suy giảm sẽ được điều chỉnh căn cứ vào khoản lợi nhuận đã xác định để phân phối cho cổ đông phổ thông trước đó, cộng với khoản lãi được xác định không phải trả nhưng đã được tính vào chi phí tài chính trong kỳ, trừ đi các chi phí phát sinh có liên quan tới việc làm thủ tục phát hành, thủ tục chuyển đổi..., đồng thời, lúc này DN sẽ phải xem xét số lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành bình quân trong kỳ, sau khi khoản nợ được chuyển đổi.
Số lượng cổ phiếu để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
Để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu, số lượng cổ phiếu phổ thông là số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông cộng (+) với số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông sẽ được phát hành trong trường hợp tất cả cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm đều được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm được giả định chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông tại thời điểm đầu kỳ báo cáo hoặc tại ngày phát hành cổ phiếu phổ thông tiềm năng nếu ngày phát hành cổ phiếu này sau thời điểm đầu kỳ báo cáo.
Trong ví dụ nêu trên, DN sẽ xác định số bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông trước thời điểm chuyển đổi khoản vay, và bình quân gia quyền của số lượng cổ phiếu phổ thông sẽ được phát hành từ việc chuyển đổi. Tổng của 2 số bình quân gia quyền này sẽ được sử dụng để tính lãi suy giảm (suy giảm ngược) trên cổ phiếu.

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 1725
Join date : 27/10/2010

Xem lý lịch thành viên http://khuongtruonghop.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết